Ngành Than Việt Nam duy trì mức tăng trưởng vượt trội

Nhu cầu tiêu thụ than ngày càng tăng, đặc biệt là than cho sản xuất điện

Ngành than Việt Nam cung cấp hơn 1/3 thị phần sản xuất điện và đóng một vai trò quan trọng cung cấp năng lượng trong các ngành công nghiệp. Trong những năm gần đây, nhu cầu về than tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ. Theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), năm 2019, TKV cung cấp hơn 36 triệu tấn than cho sản xuất điện tăng gần 7 triệu tấn so với 2018. VIRAC dự đoán, nhu cầu than cho điện năm 2020 gần 60 triệu tấn, và có thể tăng lên gấp đôi vào 2030.

Nguồn: VIRAC, ERAV

Sản lượng khai thác đạt mức cao

Trước bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19, tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2019, trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu toàn ngành ước tính đạt hơn 63 nghìn tỷ đồng, bằng 100% so với cùng kỳ 2019. Lượng than nguyên khai của TKV sản xuất đạt 21.38 triệu tấn, 53% kế hoạch năm, giảm 1% so với cùng kỳ.

Nguồn: VIRAC, GSO

Sản lượng khai thác lớn nhờ áp dụng cơ giới hóa, tiến sâu vào lòng đất giúp nâng cao năng suất lao động. Cụ thể, năng suất lao động Hà Lầm tăng 3-4 lần so với trước đây. Một số công trình đưa vào hoạt động: Hệ thống băng tải giếng chính Mạo Khê (giảm 70% nhân lực vận hành); tự động hóa tuyến băng tải lò XV mức -300 Hà Lầm (giảm 40% nhân lực); hệ thống tự động hóa trạm quạt gió Công ty Than Núi Béo (giảm 50% nhân lực). 

Xu hướng giảm xuất khẩu và gia tăng nhập khẩu

3 tháng đầu năm 2020, sản lượng nhập khẩu đạt 11.21 triệu tấn, tăng 22.3% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất phát chủ yếu từ nhu cầu than phục vụ sản xuất điện đang ở mức cao; ước tính năng lực sản xuất than cho ngành điện trong nước vào khoảng 40 triệu tấn trong khi theo tính toán cầu về than riêng sản xuất điện ở mức 60 triệu tấn.

Nguồn: VIRAC, GDVC

Indonesia hiện đang là khu vực cung cấp than chính cho Việt Nam. Trái ngược với diễn biến dòng than nhập khẩu, sản lượng xuất khẩu từ Việt Nam đến tháng 3/2020 chỉ ghi nhận ở mức 0.22 triệu tấn. Trung Quốc và Nhật Bản là 2 thị trường có giá nhập khẩu than bình quân đắt nhất. Trong 3 tháng đầu năm 2020, giá than nhập khẩu từ Trung Quốc là 302 USD/tấn, từ Nhật Bản giá 231 USD/tấn trong khi than từ Indonesia chỉ có giá 51 USD/tấn.

Nguồn: VIRAC

Khó khăn trong hoạt động khai thác 

Điều kiện khai thác khó khăn

Trữ lượng than của Việt Nam đang dần cạn  kiệt. Tại vùng mỏ Quảng Ninh, trữ lượng thăm dò còn khoảng 8.8 tỷ tấn, trong đó trữ lượng là 1.983 tỷ tấn, tài nguyên dự tính 1.900 tỷ tấn và tài nguyên dự báo 4.800 tỷ tấn. Các mỏ Cọc Sáu, Đèo Nai, Cao Sơn sẽ kết thúc khai thác vào năm 2025, chủ yếu chỉ còn lại khai thác hầm lò với độ sâu ngày càng lớn, chi phí cho khai thác ngày càng cao.

Mức độ khai thác ngày càng khó hơn. Điều kiện sản xuất của các mỏ hiện đã xuống sâu -300m so với mặt nước biển và tỷ lệ than lộ thiên so với than hầm lò chiếm 50 – 60%. Các mỏ than lộ thiên, hệ số bóc đất đá và cung độ tăng nhanh, làm cho giá than của Việt Nam kém cạnh tranh. 

Hạn chế trong áp dụng công nghệ khai thác

Tại Việt Nam, hiệu suất sử dụng năng lượng trong các nhà máy nhiệt điện chỉ đạt 28-32% (thấp hơn mức thế giới 10%), hiệu suất các lò hơi công nghiệp chỉ đạt khoảng 60% (thấp hơn mức trung bình của thế giới khoảng 20%). Do đó lượng than tiêu hao cho một đơn vị năng lượng của Việt Nam cao hơn nhiều không chỉ so với các nước phát triển, mà so cả với những nước trong khu vực. Đồng thời gây ra ô nhiễm môi trường và tăng phát thải khí nhà kính (GHG) tạo ra rủi ro cao về tính tuân thủ pháp luật và quy định về bảo vệ môi trường trong nước và quốc tế.

Gánh nặng thuế phí 

Từ ngày 1/7/2016, thuế tài nguyên môi trường đối với doanh nghiệp trong ngành tăng từ 9% lên 12%. Thuế và phí của ngành than tăng đạt mức kỷ lục, chiếm tới 16% giá thành, trong khi thế giới không quá 12%. Bên cạnh đó, thuế suất thuế nhập khẩu than ở mức 0% khiến than trong nước gặp khó khi cạnh tranh về giá với than nhập khẩu.

Dự báo ngành than Việt Nam

Theo dự báo nhu cầu sử dụng than vẫn tăng nhanh trong 15 năm tới, chủ yếu tập trung phục vụ sản xuất điện khi tỷ lệ bình quân điện trên đầu người tại Việt Nam còn thấp trong khu vực. Một số chỉ tiêu cụ thể được đề ra trong giai đoạn 2021-2025: Tổng doanh thu cán mốc 760 nghìn tỷ đồng (tăng 25% so với thực hiện giai đoạn 2015-2020, bình quân tăng 5%/năm); lợi nhuận đạt 17,5 nghìn tỷ đồng, bình quân 3,5 nghìn tỷ đồng/năm. Tổng giá trị đầu tư lên tới 76,9 nghìn tỷ đồng, bình quân 15,4 nghìn tỷ đồng/năm; năng suất lao động tăng 6-7%/năm.

Sau năm 2035, Việt Nam sẽ có xu hướng chuyển sang các nguồn năng lượng thay thế như khí đốt, năng lượng tái tạo (bao gồm năng lượng mặt trời, gió, thủy điện, nhiên liệu sinh học)… các nguồn năng lượng ít sử dụng carbon, thân thiện với môi trường và bền vững hơn.

 

 

 

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.