Báo cáo ngành gạo Việt Nam Q3/2026: Sản xuất ổn định, xuất khẩu chịu áp lực về giá

Thị trường gạo Việt Nam Q3/2026 ghi nhận giá xuất khẩu phục hồi nhẹ từ tháng 7. Tuy nhiên nhu cầu về gạo vẫn còn yếu. Lũy kế 9 tháng, xuất khẩu đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm 10,9% về giá trị. Trong khi đó, diện tích lúa các vụ thu hẹp và Nghị định 365/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/10, mở ra giai đoạn điều hành mới cho doanh nghiệp.

 

[ĐĂNG KÝ ĐỂ NHẬN SỚM BÁO CÁO NGÀNH GẠO QUÝ 3/2026]

 

Tổng quan thị trường gạo Q3/2026

Năm 2026, thị trường gạo Việt Nam duy trì quy mô sản xuất và xuất khẩu lớn. Tuy nhiên sự tăng trưởng chịu áp lực từ giá quốc tế giảm và cạnh tranh gia tăng. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6,4-6,45 triệu tấn gạo trong 9 tháng đầu năm. Tuy nhiên, đã giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 484,8 USD/tấn. Cho thấy doanh thu ngành chịu ảnh hưởng rõ hơn từ xu hướng giảm giá.

 

Riêng quý 3/2026, sản xuất trong nước nhìn chung ổn định. Vụ hè thu đạt năng suất và sản lượng tăng nhẹ dù diện tích gieo cấy giảm. Trong khi đó diện tích vụ mùa và vụ thu đông tiếp tục chịu tác động từ thời tiết, nguồn nước và quá trình chuyển đổi đất.

 

Ở chiều xuất khẩu, Philippines vẫn là thị trường chủ lực nhưng giá trị suy giảm. Bên cạnh đó Trung Quốc và Iraq nổi lên với mức tăng trưởng tích cực hơn. Diễn biến này cho thấy ngành gạo đang từng bước chuyển từ cạnh tranh dựa trên sản lượng sang tập trung vào gạo thơm, gạo chất lượng cao, sản phẩm có truy xuất nguồn gốc và gạo phát thải thấp.

 

bao-cao-nganh-gao-viet-nam-q3-2026

Chi tiết dữ liệu tại đây

 

Tình hình sản xuất lúa quý 3

Sản xuất lúa quý 3/2026 có hai mặt. Sản lượng vụ hè thu vẫn nhỉnh hơn năm trước nhờ năng suất cải thiện. Tuy nhiên tổng diện tích gieo trồng đang thu hẹp rõ rệt. Theo Cục Thống kê, diện tích lúa các vụ trong 9 tháng đầu năm giảm khoảng 183,1 nghìn ha so với cùng kỳ

 

Vụ hè thu

Vụ hè thu 2026 cả nước gieo cấy 1.861,6 nghìn ha, ít hơn vụ hè thu 2025 khoảng 36,8 nghìn ha. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.219 nghìn ha, giảm 20,1 nghìn ha. Theo Báo Nhân dân, đến ngày 20/9, cả nước đã thu hoạch 1.819,5 nghìn ha, tương đương 97,7% diện tích xuống giống. Năng suất ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với năm trước. Vì vậy sản lượng vụ hè thu vẫn ước gần 11 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn.

 

Con số này cho thấy ngành lúa gạo đang đi theo hướng hiệu quả hơn. Đây cũng là định hướng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra từ đầu năm. Đó là không chạy theo mở rộng diện tích, mà tập trung nâng năng suất và chất lượng

 

Theo báo cáo của các địa phương, diện tích lúa hè thu giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Khoảng 10,9 nghìn ha được chuyển sang cây hằng năm khác, cây lâu năm hoặc nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, 3,3 nghìn ha được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp. Khoảng 3,9 nghìn ha khác bị ảnh hưởng bởi thời tiết hoặc bị bỏ hoang.

 

Vụ mùa và vụ thu đông

Vụ thu đông chịu ảnh hưởng rõ nhất từ những yếu tố bất lợi. Đến ngày 20/9, diện tích gieo sạ tại các địa phương đạt 474,1 nghìn ha. Con số này thấp hơn cùng kỳ năm trước 130,7 nghìn ha. Nguyên nhân là nhiều địa phương chủ động lùi lịch xuống giống để tránh mưa bão. Triều cường đến sớm hơn thường lệ cũng khiến một số diện tích chưa thể xuống giống.

 

Tuy nhiên, tiến độ đang được đẩy nhanh. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến ngày 28/9 các tỉnh ĐBSCL đã xuống giống 575.000 ha trên tổng kế hoạch 639.000 ha, gần 90%. Diện tích bắt đầu thu hoạch khoảng 63.000 ha cho năng suất ước 64,1 tạ/ha.

 

Ở vụ mùa, diện tích gieo cấy cả nước đạt 1.337,1 nghìn ha tính đến ngày 20/9. Con số này giảm 45 nghìn ha so với cùng kỳ. Miền Bắc đạt 944,6 nghìn ha, giảm 33,9 nghìn ha. Trong khi đó, miền Nam đạt 392,5 nghìn ha, giảm 11,1 nghìn ha (Theo Báo Nông nghiệp và Môi trường

 

Diễn biến xuất khẩu gạo

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 6,4 triệu tấn gạo, trị giá 3,11 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, khối lượng giảm 6,1% và giá trị giảm 10,9%. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 484,8 USD/tấn, giảm 5,1%.

 

Giá xuất khẩu có tín hiệu cải thiện từ đầu quý 3. Giá bình quân tháng 7 đạt 511 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Đây là lần đầu tiên giá gạo trong năm tăng cao hơn năm trước. Tuy vậy, đà phục hồi chưa rõ nét ở các giao dịch gần nhất. Phiên 1/10, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 420-430 USD/tấn, so với 430 USD/tấn một tuần trước đó. Một thương nhân tại TP.HCM nhận định nhu cầu bên ngoài vẫn yếu dù nguồn cung trong nước thấp.

 

bao-cao-nganh-gao-viet-nam-q3-2026

Xuất khẩu gạo – Nguồn: TTXVN

 

Về thị trường, Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, chiếm 40,9% thị phần. Tiếp theo là Trung Quốc với 17,4% và Ghana với 12,7%. Giá trị xuất khẩu sang Philippines giảm 16,8% so với cùng kỳ, trong khi sang Trung Quốc tăng 76%. Trong nhóm 15 thị trường lớn nhất, Iraq ghi nhận mức tăng đột biến 98,9 lần, còn Bờ Biển Ngà giảm mạnh nhất, với 52,8% (Báo Tin tức). Phía Philippines cho biết nước này đang thực hiện chính sách đa dạng hóa nguồn cung, dù vẫn đánh giá gạo Việt Nam là nguồn cung ổn định.

 

Chính sách mới tác động đến ngành gạo

Ngày 23/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Nghị định điều chỉnh việc kinh doanh xuất, nhập khẩu thóc, gạo, cùng các hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh và gia công gạo cho nước ngoài.

 

Về xuất khẩu, Nghị định mới giảm số điều kiện kinh doanh từ 3 xuống còn 2 so với Nghị định 107/2018/NĐ-CP. Thương nhân cần có ít nhất một kho chuyên dùng chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát. Các cơ sở này phải đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Kho và cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu hoặc đi thuê.

 

Bên cạnh đó, chế độ báo cáo cũng được đơn giản hóa. Doanh nghiệp chỉ cần báo cáo một lần vào ngày 5 hằng tháng, thay vì ba lần như trước. Theo Bộ Công Thương, những thay đổi này nhằm giảm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép và giảm thành phần hồ sơ.

 

Đối với nhập khẩu, thương nhân phải thông báo kế hoạch nhập khẩu gạo với Bộ Công Thương. Trong vòng 45 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực, các doanh nghiệp đang kinh doanh nhập khẩu gạo cần hoàn tất việc đăng ký kế hoạch này

 

Xu hướng của ngành gạo Việt Nam

Trong bối cảnh nguồn cung gạo toàn cầu dồi dào, giá gạo duy trì ở mức thấp. Ngành lúa gạo Việt Nam đang dần chuyển hướng cạnh tranh. Thay vì tập trung vào sản lượng, ngành chú trọng hơn đến chất lượng và tiêu chuẩn. Từ đầu năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường không đặt nặng mục tiêu xuất khẩu vượt 8 triệu tấn như các năm trước. Thay vào đó, ngành hướng đến duy trì xuất khẩu ở mức 7-7,5 triệu tấn. Đồng thời, diện tích canh tác tại các vùng kém hiệu quả sẽ được thu hẹp. Nguồn lực được tập trung vào các vùng sản xuất trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Chú trọng chất lượng

Theo Báo Đầu tư, tỷ trọng gạo chất lượng cao trong cơ cấu xuất khẩu đã tăng lên gần 90%, trong khi gạo cấp thấp giảm dần. Xu hướng này thể hiện cả ở khâu sản xuất lẫn giá. Đầu tháng 10, tại An Giang, gạo nguyên liệu OM 5451 và Đài Thơm 8 được ghi nhận ở mức 9.200-9.400 đồng/kg. GIá này cao hơn so với nhóm IR 50404 (8.700–8.800 đồng/kg). Ở cấp địa phương, theo kế hoạch hè thu 2026, Vĩnh Long đặt mục tiêu lúa chất lượng cao chiếm khoảng 70% diện tích xuống giống

 

bao-cao-nganh-gao-viet-nam-q3-2026

Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tỷ lệ gạo chất lượng cao của Việt Nam chiếm tới 89% – Nguồn: Báo Đầu tư

 

Gạo xanh, phát thải thấp

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long là động lực chính của xu hướng này. Theo Báo Nhân dân, đến tháng 8/2026, diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình sản xuất lúa bền vững của đề án đạt khoảng 420,8 nghìn ha.

 

Về thương mại, lô 500 tấn đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” được xuất sang Nhật Bản từ tháng 6/2025. Theo Báo Đầu tư, đến nay khoảng 70.000 tấn gạo đã được cấp nhãn hiệu này. Sau đó được xuất sang Nhật Bản, châu Âu và châu Úc. Tuy quy mô của loại gạo này còn nhỏ so với tổng lượng xuất khẩu. Nhưng cho thấy gạo Việt bắt đầu đáp ứng các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc và phát thải của thị trường cao cấp. 

 

Thị trường ngách và đa dạng hoá

Năm 2026, ngành lúa gạo xác định hướng tới các thị trường có yêu cầu chất lượng cao. Có thể kể đến các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc, bên cạnh việc giữ thị phần ở các thị trường truyền thống. Việt Nam hiện là nhà cung cấp gạo lớn thứ 7 cho Nhật Bản. Một số doanh nghiệp nhận định nhu cầu nước này với gạo đặc sản, gạo xanh còn khá lớn (Báo Nhân Dân). Số liệu 9 tháng phản ánh phần nào sự chuyển hướng này khi giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 76%. Trong khi đó, giá trị xuất khẩu sang Philippines lại giảm 16,8%.

 

Tuy nhiên, các thị trường cao cấp đặt ra yêu cầu ngày càng khắt khe. Đòi hiểu yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và phát thải carbon. Từ đó yêu cầu các doanh nghiệp và nông dân cần phải đầu tư thêm. Đồng thời, phân khúc ngách hiện chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, nên khó bù đắp ngay cho mức giảm của thị trường chủ lực.

 

Báo cáo ngành gạo Việt Nam Q3/2026: Trải nghiệm demo miễn phí

Báo cáo ngành gạo Việt Nam của VIRAC cung cấp cho khách hàng hệ thống thông tin và phân tích chuyên sâu về cung – cầu thương mại của ngành và biến động của ngành gạo.

 

Báo cáo ngành gạo Việt Nam được xây dựng dựa trên dữ liệu cập nhật mới nhất, được phân tích toàn diện nhất và có những nhận định sâu sắc về ngành gạo Việt Nam:

 

  • Diễn biến giá
  • Thị trường Việt Nam
  • Thị trường thế giới

 

VIRAC hy vọng báo cáo không chỉ là nguồn thông tin quan trọng, mà còn là một công cụ chiến lược mạnh mẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh chính xác và hiệu quả.

 

Hãy đặt hàng trước ngay hôm nay để trở thành những người đầu tiên sở hữu trọn bộ báo cáo Q3/2026 mới nhất.

 

👉Xem Demo báo cáo ngành gạo Việt Nam Q2/2026 tại đây 

 


 

ĐĂNG KÝ ĐỂ SỞ HỮU BÁO CÁO NGÀNH GẠO VIỆT NAM Q3/2026

 

VIRAC còn cung cấp hệ thống dữ liệu kinh tế Data Factory để phục vụ các cá nhân tra cứu dữ liệu thô. Data Factory VIRAC cung cấp dữ liệu của 456 mã ngành với thông tin: Số lượng doanh nghiệp; Số lượng lao động; Doanh thu thuần; Tài sản cố định; Vốn đầu tư cơ bản; Lợi nhuận trước thuế; Thuế và các khoản phải nộp của các ngành kinh tế.

 

Ngoài ra, thống kê nâng cao Data Factory VIRAC còn cung cấp dữ liệu về sản xuất, tiêu thụ, tồn kho của 1910 sản phẩm theo từng quý, từng tỉnh thành và toàn quốc.

 

Để tìm hiểu cụ thể hơn về Data Factory VIRAC, vui lòng gửi thông tin tới Zalo Official Account hoặc quét mã QR bên dưới.

 

tieu-thu-dien-toan-quoc-dau-nam-2024-dat-ky-luc-du-kien-tang-cao-vuot-nguong-cung-ung

 

VIRAC được thành lập bởi đội ngũ nhân sự uy tín và có chuyên môn về thông tin, tài chính và nghiên cứu thị trường trong khu vực. VIRAC chuyên cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến:

  • Nghiên cứu Ngành
  • Nghiên cứu doanh nghiệp
  • Nghiên cứu thị trường
  • Nền tảng dữ liệu VIRACE

 

Các đối tác của VIRAC

  • Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
  • Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank)
  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)
  • Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB Bank)
  • Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam
  • Olam International

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.