NHÌN LẠI KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020 ĐẦY BIẾN ĐỘNG VÀ NHỮNG DỰ BÁO TRONG NĂM 2021

Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giới nói chung, trong đó có Việt Nam. Kinh tế thế giới suy thoái nghiêm trọng, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng với tốc độ tăng GDP ước tính đạt 2,91%.

Năm 2021 Việt Nam được dự báo tăng trưởng GDP 6% năm 2021, lạm phát tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ, tăng trưởng tín dụng 2021 ở mức khoảng 12%,… đưa nền kinh tế hồi phục sau đại dịch, phát triển mạnh mẽ.

Tổng quan tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2020

Nguồn: VIRAC, GSO

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 Việt Nam ước tính tăng 2.91% (Q1 tăng  3.68%; Q2 tăng 0.39%; Q3 tăng 2.69%; Q4 tăng 4.48%) so với năm 2019,  tuy đây là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới  mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. Theo Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới vừa được công bố tháng 11/2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), năm 2020, kinh tế Việt Nam là một trong 4 nền kinh tế trên thế giới có được sự tăng trưởng về GDP bình quân đầu người (Việt Nam, Đài Loan, Ai Cập và Trung Quốc) cao nhất. Trong bối cảnh  dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế –  xã hội, Việt Nam hy sinh lợi ích kinh tế để đặt phòng chống và dập dịch lên ưu  tiên hàng đầu. Việc nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì, không rơi vào tình  trạng tăng trưởng âm là dấu hiệu đáng mừng. 

Trong mức tăng chung của 4 Quý thì Q2 có mức tăng nhỏ nhất. Điều này được giải thích là do đây là thời điểm dịch Covid – 19 tại Việt Nam bùng phát mạnh mẽ nhất, các biện pháp giãn cách xã hội, đóng cửa nền kinh tế đã làm cho các tháng 4,5 và 6 tăng trưởng chậm. Ngay sau khi kiểm soát được dịch bệnh thì Chính phủ đã thi hành nhiều chính sách kích thích nền kinh tế phát triển trở lại, điều này được thể hiện qua mức tăng trưởng của Q3 và Q4 lần lượt là 2.69% và 4.48%.

Nguồn: VIRAC, GSO

Cơ cấu nền kinh tế năm 2020 có nhiều biến động khi ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong  GDP cả nước với 41.63%. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm  trọng đến hoạt động thương mại và dịch vụ. Khu vực dịch vụ trong năm 2020  đạt mức tăng thấp nhất của các năm 2011-2020. Đứng thứ hai là ngành công  nghiệp chiếm tỷ trọng 33.72%, tăng 3.36%, đóng góp 1.12 điểm phần trăm vào  tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp  chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế  với mức tăng 5.82%. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng  14.85%, tăng 2.55%, đóng góp 0.29 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng  chung.

Trong mức tăng GDP chung toàn nền kinh tế năm 2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2.68%, đóng góp 13.5%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3.98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2.34%, đóng góp 33.5% vào tốc độ tăng GDP của cả nước.

Sản xuất và tiêu dùng năm 2020 của Việt Nam có nhiều điểm sáng trước sự diễn biến phức tạp của Covid – 19.

Nguồn: VIRAC, GSO

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 gặp nhiều khó khăn do tác động của hạn hán, xâm nhập mặn; dịch tả lợn châu Phi; dịch Covid-19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng đến sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu nông sản. Trước những khó khăn đó, ngành nông nghiệp đã có những giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả nên kết quả sản xuất đạt khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn, bảo  đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để an sinh, an dân trong đại dịch:

Khu vực nông nghiệp đạt 384,117 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), tăng 2.55% so với năm 2019, chiếm 73.3% trong tổng giá trị sản xuất. Tính đến  hết năm 2020, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1,584.6 nghìn ha, bằng 98.3% cùng kỳ năm trước; Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hằng năm: Sản lượng ngô đạt 4.59 triệu tấn, giảm 140.3 nghìn tấn so với năm 2019 do diện tích gieo trồng giảm 43 nghìn ha; khoai lang đạt 1.37 triệu tấn, giảm 57.5 nghìn tấn  (diện tích giảm 7.8 nghìn ha); mía đạt 11.88 triệu tấn, giảm 3.44 triệu tấn (diện tích giảm 45.3 nghìn ha);…

Năm 2020, diện tích rừng trồng mới tập trung của cả nước ước tính đạt 260.5 nghìn ha, giảm 3.2% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 94.6 triệu cây, giảm 1.6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 16.9 triệu m3, tăng 3.7%; sản lượng củi khai thác đạt 18.9 triệu ste, giảm 1%. Diện tích rừng bị thiệt hại là  1,464.3 ha, giảm 45.6% so với năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 645.3 ha, giảm 67.8%; diện tích rừng bị chặt phá là 819 ha, tăng 19.4%.

Ngành thủy sản tiếp tục đạt mức tăng trưởng ổn định với 3.08% tương đương 115,291 tỷ đồng. Tính chung năm 2020, tổng sản lượng thủy sản ước tính  đạt 8,423.1 nghìn tấn, tăng 1.8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 4,559.2 nghìn tấn, tăng 1.5%; sản lượng thủy sản khai  thác đạt 3,863.9 nghìn tấn, tăng 2.3%.

Nguồn: VIRAC, GSO

Năm 2020, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới nhưng được kiểm soát tốt trong nước nên hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng vẫn đạt mức tăng cao trong những tháng cuối năm. Tính chung cả năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5,059.8 nghìn tỷ  đồng, tăng 2.6% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 1.2% (năm 2019 tăng 9.5%). 

Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2020 ước tính đạt 3,996.9 nghìn tỷ đồng, chiếm 79% tổng mức và tăng 6.8% so với năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 510.4 nghìn tỷ đồng, chiếm 10.1% và giảm 13%. Du lịch lữ hành có doanh thu đạt 17.9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0.3% và giảm 59.5%. Cuối cùng, doanh thu từ các dịch vụ khác đạt 534.6 nghìn tỷ đồng, chiếm 10.6% và giảm 4%.

Đầu tư giảm mạnh do thị trường kinh tế ảm đạm.

Nguồn: VIRAC, GSO

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2020 bằng 34.4% GDP, ước tính đạt 2,164.5 nghìn tỷ đồng là mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 đến tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. 

Vốn khu vực Nhà nước đạt 729 nghìn tỷ đồng, chiếm 33.7% tổng vốn và tăng 14.5% tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước cao nhất trong giai đoạn 2011-2020. Đây là kết quả đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh dịch Covid – 19 được kiểm soát tốt tại Việt Nam. Khu vực ngoài Nhà nước đạt 972.2 nghìn tỷ đồng, bằng 44.9% và tăng 3.1%. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 463.3 nghìn tỷ đồng, bằng 21.4% và giảm 1.3%.

Nguồn: VIRAC, GSO

Tính đến 20/12/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28.53 tỷ USD, bằng 75% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó vốn đăng ký mới có 2,523 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư (giảm 35% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký đạt 14.65 tỷ USD (giảm 12.5% so với cùng kỳ năm 2019). Vốn điều chỉnh có 1,140 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư (giảm 17.5% so với cùng kỳ), tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 6.4 tỷ USD (tăng 10.6% so với cùng kỳ). Góp vốn, mua cổ phần có 6,141 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (giảm 37.6% so với cùng kỳ), tổng giá trị vốn góp 7.47 tỷ USD (giảm 51.7% so với cùng kỳ). Cơ cấu giá trị góp vốn, mua cổ phần trong tổng vốn đầu tư cũng giảm so với cùng kỳ năm 2019 (từ 40.7% trong năm 2019 xuống 26.2% trong năm 2020). 

Hoạt động xuất nhập khẩu đạt mức xuất siêu kỷ lục, trở thành điểm sáng của tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam.

Nguồn: VIRAC, GSO

Việc Chính phủ Việt Nam đã thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, tận dụng triệt để lợi ích từ các hiệp định như: EVFTA, CPTPP, VCFTA, ACFTA,… đã giúp tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong năm 2020 tăng 5.5% so với năm trước đạt 545.4 tỷ USD đạt mức siêu kỷ lục, trở thành điểm sáng của kinh tế Việt Nam. Cụ thể, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước tính đạt 282.7 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2019. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 79.8 tỷ USD, khu  vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 202.9 tỷ USD. Tổng trị giá nhập khẩu ước tính đạt 262.7 tỷ USD, tăng 3.7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 93.7 tỷ USD; khu vực có  vốn đầu tư nước ngoài đạt 169 tỷ USD. Tính chung cả năm 2020, cán cân thương mại tiếp tục ghi nhận xuất siêu 20 tỷ USD (tăng gần 80% so với cùng kỳ năm trước), trong đó khu vực kinh tế  trong nước nhập siêu 13.9 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 33.9 tỷ USD.

Tuy nhiên, xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào dòng vốn FDI. Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI chiếm 71.8% tổng kim ngạch  xuất khẩu năm 2020. Kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI chiếm 64.3% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Bình ổn lạm phát trong bối cảnh một năm với nhiều biến động khó lường.

Nguồn: VIRAC, GSO

Chỉ số giá tiêu dùng năm 2020 tăng 3.23% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2020 dưới 4% của Quốc Hội đề ra đã đạt được trong bối cảnh một năm với nhiều biến động khó lường. 

CPI của năm 2020 tăng được giải thích bởi rất nhiều lý do. Tháng 1 và tháng 2 là tháng Tết nên nhu cầu mua sắm tăng cao, giá các mặt hàng lương thực bình quân năm 2020 tăng 4.51% so với năm trước góp phần làm  cho CPI chung tăng 0.17%. Giá gạo năm 2020 tăng 5.14% so với năm trước do giá gạo xuất khẩu tăng cùng với nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng. Giá các mặt hàng thực phẩm năm 2020 tăng 12.28% so với năm trước góp phần làm cho CPI tăng 2.61% chủ yếu do giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống tăng  cao trong dịp Tết Nguyên đán, nhất là giá mặt hàng thịt lợn tăng cao do nguồn cung chưa được đảm bảo, giá thịt lợn tăng 57.23% so với năm trước làm cho CPI  chung tăng 1.94%. Theo đó, giá thịt chế biến tăng 21.59%; mỡ lợn tăng 58.99% so với năm trước. Do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung  trong tháng 10 và tháng 11 tác động làm cho diện tích rau màu ngập nặng, nhiều ao, hồ, chuồng trại bị hư hỏng, cuốn trôi,…làm cho giá rau tươi, khô và chế  biến tăng. Do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 trên thế giới vẫn còn phức tạp, nhu cầu về một số loại vật tư y tế, thuốc phòng và chữa bệnh phục vụ trong nước và xuất khẩu ở  mức cao nên giá các mặt hàng này có xu hướng tăng nhẹ. Bình quân năm 2020 giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1.35% so với năm trước. Giá dịch vụ giáo dục năm 2020 tăng 4.32% so với năm 2019 do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo.

Giá vàng tăng kỷ lục trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

Nguồn: VIRAC, GSO

Năm 2020 khép lại, ghi dấu ấn 1 năm đầy biến động của thị trường vàng trong nước và thế giới. Dịch COVID-19 là yếu tố chính chi phối thị trường vàng trong năm qua, đã khiến kim loại quý liên tục biến động. Giá vàng trong nước trong năm 2020 biến động theo giá vàng thế giới. Bình quân năm 2020, giá vàng tăng 28,05% so với năm 2019.

Cụ thể, giá vàng SJC trong nước trong nửa đầu tháng 7-2020 vượt và duy trì giao dịch trên ngưỡng 50 triệu đồng/lượng, tăng 28,57% so với cùng kỳ năm 2019, cao nhất kể từ năm 2011. Mức tăng trưởng cao nhất rơi vào tháng 8 năm 2020 khi giá vàng tăng đến hơn 35% so với thời gian cùng kỳ.

Sự nỗ lực rất lớn của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc tăng trưởng tín dụng.

Nguồn: VIRAC, GSO

Tính đến ngày 31/12/2020, dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt gần 9.2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 12.13% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ năm 2019 tăng 13.65%). Tăng trưởng tín dụng năm 2020 mặc dù không đạt như kỳ vọng đầu năm 2020, nhưng kết quả đã cho thấy sự nỗ lực rất lớn của toàn hệ thống ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp và người dân. Mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với một số ngành, lĩnh vực phổ biến ở mức 5%/năm.

Dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021, cơ hội và những rủi ro cho những ngành hàng Việt Nam.

Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Việt Nam tăng trưởng GDP 6% năm 2021 là tương đối khả thi. Có ba lý do để lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam. Thứ nhất, các động lực tăng trưởng chính như đầu tư, xuất khẩu được dự báo vẫn duy trì xu hướng tích cực trong năm tới. Cụ thể, nhìn lại năm 2020, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, về đầu tư, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện đạt hơn 2.164 nghìn tỷ đồng, tăng 5.7% so với năm 2019, đặc biệt tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2020 đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2011 – 2020. Về xuất khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt hơn 281 tỷ USD, tăng 6.5% so với năm 2019; cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 ước tính xuất siêu 19.1 tỷ USD, mức cao nhất trong 5 năm xuất siêu kể từ năm 2016. Thứ hai, kinh tế Việt Nam đã phục hồi rõ nét theo hình chữ “V” từ Q3/2020 và sẽ tăng trưởng khá trong năm 2021. Thứ ba, hiện nay vaccine phòng Covid-19 đang bắt đầu được cung cấp tại nhiều nước trên thế giới, là tín hiệu tích cực đối với việc phòng, chống dịch Covid-19, hỗ trợ quá trình khôi phục phát triển kinh tế trên toàn cầu, trong đó có nhiều nền kinh tế đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam.

Dự báo trong năm 2021, lạm phát tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra, giá dầu có xu hướng hồi phục trong quý 4/2020 nhưng giá thịt lợn cũng đã giảm đáng kể so với vùng đỉnh từ quý 3/2020, các mặt hàng khác biến động không lớn do sự hồi phục chậm đặc biệt là nhóm du lịch, giải trí… 

Về thực hiện dự toán NSNN, theo dự toán ngân sách 2021 được Quốc hội thông qua, tổng số thu NSNN năm 2021 dự toán là 1,343,330 tỷ đồng. Tổng số chi NSNN là 1,687,000 tỷ đồng. Mức bội chi NSNN là 343,670 tỷ đồng, tương đương 4% GDP, trong đó bội chi ngân sách Trung ương (NSTƯ) là 318,870 tỷ đồng (3.7% GDP), bội chi ngân sách địa phương (NSĐP) là 24,800 tỷ đồng (0.3% GDP). Tổng mức vay của NSNN là 608,569 tỷ đồng. 

Dự báo cũng cho thấy dư địa tăng trưởng tín dụng năm 2021 là rất lớn nhờ lượng tiền dồi dào từ nửa cuối năm 2020. Dự báo tăng trưởng tín dụng 2021 ở mức khoảng 12%. Tuy nhiên, dòng vốn tín dụng sẽ có sự phân hóa lớn và sẽ hướng tới 5 nhóm ngành ưu tiên như nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất, công nghệ cao,…

Năm 2021, mặt bằng lãi suất cho vay khả năng sẽ nhích lên. Nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế dự báo sẽ phục hồi nhanh, đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao trong năm 2021. Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới dự báo, GDP Việt Nam năm 2021 có thể đạt 6.8%, hay Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 đạt 6.7%…. Khi nền kinh tế khôi phục được tốc độ tăng trưởng cao, thì nhu cầu về vốn của nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ tăng lên, nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng sẽ tăng lên… kéo lãi suất sẽ nhích lên.

Tỷ giá của thị trường ngoại hối vẫn có thể chịu những áp lực nhất định xung quanh các sự kiện biến động lớn, tuy nhiên tỷ giá sẽ biến động với biên độ ± 0.5% cho cả năm 2021.

Bên cạnh những dự báo trên, Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít những rủi ro như: 

Rủi ro về lạm phát: Năm 2021, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới mức 4% nhưng vẫn luôn tồn tại những yếu tố gây áp lực tăng nhất định lên lạm phát.

Rủi ro ảnh hưởng từ bất ổn địa chính trị toàn cầu. Các chuyên gia dự đoán rằng 2021 sẽ là một năm đầy thách thức với cả thế giới, khi môi trường cạnh tranh quốc tế căng thẳng sẽ tạo ra những rủi ro địa chính trị rất lớn. Các rủi ro có thể kể đến như: biến động trong căng thẳng địa chính trị Mỹ-Trung; bầu cử tổng thống Mỹ; lo ngại về Brexit; căng thẳng địa chính trị giữa Ấn Độ và Trung Quốc và Mỹ-Iran; bầu cử để thành lập chính phủ mới ở Israel trong bối cảnh bất ổn chính trị kéo dài,….

Rủi ro do biến động tỷ giá. Tỷ giá đồng USD đang ở ngưỡng thấp nhất gần 3 năm, trong bối cảnh giới đầu tư rót tiền trở lại vào những tài sản có độ rủi ro cao hơn. Dự báo xu hướng mất giá của đồng bạc xanh sẽ tiếp tục trong năm 2021. Điều này đồng nghĩa với việc tiền VND mạnh hơn, có thể gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới. 

Rủi ro từ dòng vốn FDI. Tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI, nhất là dựa vào một số mặt hàng chủ lực, một số doanh nghiệp lớn như Samsung, Formosa, nên khi những mặt hàng này có biến động là sẽ tác động ngay đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI phi chính thức cũng đang chảy nhiều vào Việt Nam ngoài con số công bố. Ví dụ qua các kênh mua bất động sản; ngân hàng nước ngoài cho doanh nghiệp tư nhân trong nước vay lượng tiền rất lớn… Đó là những cách đưa dòng tiền phi chính thức vào, khó kiểm soát và nhiều rủi ro.

Rủi ro dịch bệnh. Năm 2020, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19. Mặc dù Việt Nam đang làm tốt trong việc kiểm soát dịch bệnh, diễn biến dịch vẫn còn phức tạp ở nhiều nước trên thế giới, nguy cơ dịch quay lại và đe dọa nền kinh tế là điều không thể tính đến. Nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao thương, đi lại di chuyển giữa các nước là điều thiết yếu.

Rủi ro biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường. Theo báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (NCIF), nền kinh tế Việt nam đang đứng trước những thách thức và áp lực không nhỏ do tác động của yếu tố thời tiết và ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển. Năm 2020 vừa qua, kinh tế và đời sống người dân Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thiên tai dị thường liên tiếp ở miền Trung từ giữa tháng 9 đến trung tuần tháng 11 đã làm 192 người chết và 57 người vẫn đang còn mất tích. Tổng thiệt hại kinh tế khoảng 30,000 tỷ đồng.


Parse error: syntax error, unexpected end of file, expecting ';' in /home/earththe/public_html/viracresearch/wp-content/themes/virac/template-parts/post/single-related-posts.php on line 53