Nâng cao thế cạnh tranh ngành dịch vụ kho vận Việt Nam 

Thực trạng dịch vụ kho bãi và kho vận Việt Nam 

Doanh thu dịch vụ kho bãi, kho vận có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 5 năm, từ 16,500 nghìn tỷ VND vào năm 2015 lên tới gần 33,400 nghìn tỷ VND vào năm 2018, giảm nhẹ vào năm 2019 với mức doanh thu đạt 31,700 nghìn tỷ VND.

Nguồn: VIRAC, GSO

Số lượng doanh nghiệp và lao động kho bãi, kho vận tại Việt Nam có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2015–2019. Cụ thể, số lượng doanh nghiệp tăng hơn 70% từ hơn 421 doanh nghiệp vào năm 2015 lên tới con số hơn 740 doanh nghiệp vào năm 2019. Cùng với đó là số lượng lao động tăng mạnh từ năm 2015 lên con số hơn 19,000 lao động chỉ sau một năm, sau đó tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt hơn 22,300 lao động vào năm 2019. 

Nguồn: VIRAC, GSO

Các công ty kho vận trong nước có xu hướng đầu tư mở rộng quy mô kho bãi, nâng cao chất lượng dịch vụ để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Thị trường kho vận hiện nay có sự phân hóa rõ rệt về thị phần của các doanh nghiệp kho vận nước ngoài (chiếm khoảng 70%-80%), dù doanh nghiệp kho vận nội địa vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo về số lượng. Trước nhu cầu về chất lượng hàng hóa cao, đa dạng hơn và tốc độ giao hàng nhanh hơn, hoạt động rót vốn đầu tư hoặc M&A của khối ngoại trong lĩnh vực này cho thấy cuộc đua thâu tóm thị phần kho vận ở Việt Nam sẽ tiếp tục có nhiều biến động trong thời gian tới.

Ngành phân tán với hơn 95% số đơn vị cung cấp là doanh nghiệp nhỏ và vừa 

Hiện nay, lĩnh vực kho bãi ở Việt Nam có thể được chia thành hai phân khúc chính gồm nhà kho bảo quản hàng khô và kho lạnh. Hoạt động của hệ thống kho này khá đơn giản, nhằm mục đích bảo quản hàng hóa và tối ưu chi phí lưu kho. Một số công ty hiện tại mạnh về cho thuê và quản lý kho hàng như BS Logistics, Sotrans, Transimex, Gemadept, U&I Logistics, Vinafco Draco Seaborne, BK Logistics, ALS, ITL…

Nguồn: VIRAC

Quy mô thị trường chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam ước đạt 169 triệu USD năm 2019. Nhờ vào sự phát triển của ngành chế biến tại Việt Nam cũng như cùng sự bùng nổ trong tiêu dùng nội địa, chuỗi cung ứng lạnh tại Việt Nam cũng theo đà phát triển. Tuy nhiên, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp nội địa lại chưa thể đáp ứng trước nhu cầu cao trong lĩnh vực này. International Finance Corporation (IFC), thành viên của nhóm Ngân hàng thế giới, nhận định ngành kho vận Việt Nam hiện còn phân tán với trên 95% số đơn vị cung cấp dịch vụ là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước với phạm vi hoạt động khiêm tốn và năng lực cạnh tranh chưa cao.

Có thể thấy, các doanh nghiệp Logistics nói chung và các doanh nghiệp dịch vụ kho bãi, kho vận nói riêng đều có quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Hơn 53% doanh nghiệp đang hoạt động dịch vụ kho bãi, kho vận với quy mô dưới 5 người, 23% doanh nghiệp hoạt động với quy mô chỉ từ 10-49 người.

Nguồn: VIRAC, GSO

Theo nghiên cứu gần đây của CEL – một trong những công ty tư vấn quản trị chuỗi cung ứng đầu tiên tại Đông Nam Á, chỉ có 14% các nhà sản xuất Việt Nam được liên kết với các giải pháp chuỗi lạnh, trong đó ngành thủy sản chiếm 42.1% trong tổng số các nhà sản xuất. Ngoài ra, trong khi việc sử dụng chuỗi lạnh là 66.7% đối với nhà xuất khẩu, thì chuỗi lạnh chỉ được áp dụng bởi 8.2% các nhà sản xuất cung cấp cho thị trường nội địa.

Theo một báo cáo mới nhất của CBRE Việt Nam, thời gian gần đây nhu cầu thuê nhà kho tiếp tục tăng mạnh trong cả nước nhờ các ngành sản xuất phát triển và người dân tăng chi tiêu tiêu dùng. Nhu cầu thuê nhà kho đang tăng cao tại một số địa phương trong cả nước như tại: TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Ninh hay Đồng Nai.

Thách thức đối với việc phát triển ngành dịch vụ kho bãi, kho vận Việt Nam

Thách thức về chất lượng dịch vụ 

Các doanh nghiệp kho bãi, kho vận Việt Nam chưa cung cấp được dịch vụ kho bãi, kho vận hoàn chỉnh. Đa phần chỉ đảm nhận vai trò vệ tinh cho các công ty nước ngoài, thực hiện các nghiệp vụ đơn lẻ khai báo hải quan, cho thuê phương tiện vận tải nội địa, kho bãi, mua bán cước phí… Ngoài ra, dung tích kho và chất lượng dịch vụ kho bãi, kho vận của doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự tương xứng với doanh nghiệp nước ngoài; do đó, khó cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường nội địa.

Thách thức về ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử 

Các doanh nghiệp Việt Nam thường quản lý thủ công, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp. Mức độ ứng dụng thương mại điện tử (bao gồm cả trao đổi EDI và vận đơn điện tử, chứng từ điện tử…) của các doanh nghiệp Việt Nam yếu và thua kém so với các doanh nghiệp nước ngoài, chưa có khả năng liên kết với các mạng lưới dịch vụ khác. 

Thách thức về nguồn nhân lực 

Tại Việt Nam, hiện chưa có cơ sở đào tạo chuyên nghiệp về dịch vụ kho bãi, kho vận. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là tự đào tạo theo kinh nghiệm thực tế, mức độ chuyên nghiệp còn kém. Khi thị trường bùng nổ, các doanh nghiệp sẽ phải đối diện thêm với xu hướng thiếu hụt nhân lực giỏi do sức hút của các doanh nghiệp ngoại hoặc tự tách ra thành lập công ty riêng.

Triển vọng ngành và xu hướng phát triển ngành

 

Nguồn: Vietnam Report

Ứng dụng công nghệ 4.0 trong ngành vận tải và logistics

Hiện nay, mức độ ứng dụng công nghệ của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics Việt Nam vào hoạt động kinh doanh còn ở trình độ thấp, chủ yếu là sử dụng phần mềm khai hải quan điện tử, công nghệ định vị xe, email và internet cơ bản… Tuy nhiên, trước xu hướng số hóa, các doanh nghiệp trong ngành vận tải và logistics Việt Nam sẽ dần thích ứng, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động logistics. Từ đó, các giải pháp vận chuyển, giao hàng chuyên nghiệp cùng dịch vụ hậu cần kho vận thông minh kết hợp với IoT sẽ giúp chuẩn hóa quy trình vận hành, tối ưu chi phí và nguồn lực của doanh nghiệp.

Xu hướng mua sắm trực tuyến mở cơ hội cho các doanh nghiệp vận tải và logistics

Với tỷ lệ 70% dân số Việt Nam đang sử dụng Internet, truy cập bình quân mỗi người khoảng 28 giờ/tuần đã tạo điều kiện cho ngành thương mại điện tử phát triển mạnh. Năm 2018, theo báo cáo của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số Việt Nam, thị trường thương mại điện tử đạt 8 tỷ USD, có mức tăng trưởng 30% so với 2017 và dự báo vẫn tiếp tục tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.

Mua bán sáp nhập (M&A) tiếp tục sôi động với vận tải và logistics

Trong năm 2019, đã có nhiều thương vụ M&A trị giá hàng triệu đô, như Tập đoàn Symphony International Holdings (Singapore) cổ phần của Công ty CP Giao nhận và Vận chuyển Indo Trần (ITL Corp) từ Singapore Post với giá 42,6 triệu USD. SSJ Consulting đã chi gần 40 triệu USD để mua 10% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành của Gemadept.

Trong vòng 2-3 năm tới, làn sóng M&A vẫn tiếp tục sôi động trong lĩnh vực vận tải và logistics do áp lực cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ. Hoạt động M&A cũng tạo ra thách thức cho doanh nghiệp nước phải cải tiến và đổi mới để tối ưu doanh nghiệp của mình, nhưng cũng là cơ hội tốt cho doanh nghiệp và các doanh nghiệp khác khi được học tập kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ, tối ưu hóa chi phí logistics của các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm.

Đầu tư vào kho, trung tâm logistics và chuỗi cung ứng lạnh

Theo công ty nghiên cứu thị trường Allied Market Research (2019), quy mô thị trường logistics chuỗi lạnh toàn cầu được đạt giá trị 159.9 tỷ USD trong năm 2018 và dự kiến sẽ đạt khoảng 590 tỷ USD vào năm 2026. Mặc dù thị trường chuỗi cung ứng lạnh nói chung và kho lạnh nói riêng tại Việt Nam bị đánh giá là nhỏ lẻ và manh mún, tuy nhiên thị trường đang mở rộng và được kỳ vọng có những bước phát triển mới trong năm 2020.

Với sự gia tăng mạnh của số lượng các doanh nghiệp thương mại điện tử, cùng với nhu cầu thuê mặt bằng lưu giữ, phân loại hàng hóa, hoàn tất đơn hàng…, nhiều doanh nghiệp đã nắm bắt xu thế, xây dựng và đầu tư hệ thống kho, trung tâm logistics với chức năng cung ứng dịch vụ vận tải, phân phối… theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại với chất lượng cao.


Parse error: syntax error, unexpected end of file, expecting ';' in /home/earththe/public_html/viracresearch/wp-content/themes/virac/template-parts/post/single-related-posts.php on line 53