NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

Năm 2016, trữ lượng dầu toàn cầu ước đạt 2,092 tỷ thùng và con số này gấp 70 lần mức sản xuất dầu hiện nay là 30 tỷ thùng/năm. Mỹ lần đầu tiên vượt Nga và Ả Rập Xê út và trở thành nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Trữ lượng khí thiên nhiên thế giới ước đạt 197.2 nghìn tỷ m3, trong đó Nga là quốc gia có trữ lượng lớn nhất. Số lượng giàn khoan thế giới sụt giảm mạnh năm 2015 và đạt khoảng 3,618 giàn do giá dầu giảm và nguồn cung dư thừa.

Trong giai đoạn 2013-2016, nguồn cung dầu thế giới biến động không nhiều. Dầu thô là sản phẩm có giá trị xuất khẩu lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 4.8% giá trị xuất khẩu hàng hóa toàn cầu. Giá dầu thô thế giới bắt đầu lao dốc từ giữa năm 2014 xuống dưới 50 USD/thùng vào đầu năm 2015 và tiếp tục chạm đáy vào đầu năm 2016 (mức thấp nhất trong gần 13 năm). Giá dầu thô chỉ tăng bứt phá hơn và vượt ngưỡng 50 USD/thùng sau khi OPEC đàm phán thành công với các nước thành viên vào ngày 30/11/2016. Ngay sau đó, thị trường dầu mỏ thế giới lại đón nhận thêm một thỏa thuận thứ hai khi ngày 10/12 OPEC đàm phán thành công với một số nước ngoài hiệp hội giúp giá dầu thô duy trì trên ngưỡng 50 USD/thùng cho tới thời điểm hiện tại. Tương tự như giá dầu, giá khí thiên nhiên cũng giảm mạnh vào đầu năm 2016 và tăng trở lại vào các tháng cuối năm.

Ngành dầu khí Việt Nam còn khá non trẻ và chỉ mới bắt đầu được quan tâm đúng mức của Chính phủ. Năm 1981 bắt đầu khai thác mỏ khí đầu tiên ở Tiền Hải – Thái Bình với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ. Từ đó đến nay ngành dầu khí luôn giữ vị thế hàng đầu trong xuất khẩu của Việt Nam cũng như những đóng góp cho ngân sách Nhà nước. Dầu khí được khai thác chủ yếu từ trong lòng thềm lục địa và góp phần cung cấp năng lượng và nhiên liệu cho phát triển kinh tế đất nước, tăng kim ngạch xuất khẩu. Ngành dầu khí Việt Nam hiện nay vẫn đặt khai thác xuất khẩu là chủ lực nên phụ thuộc khá nhiều vào giá dầu thế giới.

Ngành dầu khí là ngành công nghiệp bao gồm rất nhiều công đoạn không những thăm dò, khai thác mà còn phải chế biến từ dầu thô trở thành dầu tinh. Theo thông lệ, ngành dầu khí được chia là ba nhóm loại hình hoạt động gọi là thượng nguồn, trung nguồn, và hạ nguồn. Nhóm thượng nguồn gồm các hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm, thăm dò, khai thác mỏ. Nhóm trung nguồn gồm các hoạt động tàng trữ vận chuyển, và nhóm hạ nguồn gồm các hoạt động xử lý, chế biến ( lọc dầu, hoá dầu, hoá khí ) và phân phối. Ba nhóm này có những đặc điểm riêng nhưng gắn kết với nhau tạo thành một vòng khép kín của một ngành công nghiệp hoàn chỉnh.

Trữ lượng dầu khí của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2016 không có nhiều thay đổi. Trong khi trữ lượng dầu chiếm 0.3% trữ lượng dầu thô thế giới, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 28 trên thế giới; trữ lượng khí đã tăng trong năm 2016. Trong giai đoạn 1986 – 2013, sản lượng khai thác dầu, khí đã tăng lên đáng kể, tương đương 0.5% sản lượng dầu thô và 0.2% tổng sản lượng khí toàn thế giới.

Năm 2015, nhóm các doanh nghiệp ngành dầu khí đều có mức tăng trưởng âm về doanh thu thuần so với năm 2014. Nguyên nhân là do ngành dầu khí trong nước chịu tác động mạnh của thị trường dầu khí thế giới; đặc biệt, giá dầu thế giới giảm sâu và duy trì ở mức thấp, từ mức trung bình 93.01 USD/thùng năm 2014 xuống chỉ còn 48.8 USD/thùng năm 2015. Giá dầu thấp, chi phí giá thành khai thác cao hơn doanh thu bán dầu. Nhìn chung, các doanh nghiệp khu vực thương nguồn chịu tác động khá nặng nề so với các khu vực khác. Nếu giá dầu tiếp tục giảm sâu, nhiều doanh nghiệp dầu khí đang khai thác sẽ không bù đắp được chi phí dẫn đến thua lỗ. Đồng thời cũng không cân đối được tài chính để tiếp tục đầu tư tìm kiếm thăm dò.
Trong thời gian tới, việc OPEC cắt giảm sản lượng dầu thô khiến giá dầu thô có xu hướng tăng, sẽ có nhiều tác động mạnh tới thị trường dầu khí trong nước; trong đó, hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam được đánh giá sẽ có sự ổn định trở lại.