CƠ HỘI VÀNG CHO DỆT MAY VIỆT TẠI ĐẤU TRƯỜNG QUỐC TẾ

Thực tế cho thấy, những năm gần đây hàng may mặc Việt Nam đang tạo được ấn tượng tốt với các đối tác Châu Âu và thế giới nói chung. Song, để nền công nghiệp dệt may trong nước đủ sức đối đầu với các cường quốc lại là cả một quá trình khó khăn và tốn kém, đòi hỏi doanh nghiệp Việt phải không ngừng nâng cấp sản xuất, gia tăng chất lượng thành phẩm trong cuộc đua cạnh tranh toàn cầu. 

Trung Quốc, Mỹ và Châu Âu chiếm lĩnh thị trường may mặc thế giới

Nguồn cung

Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong sản xuất và tiêu thụ bông tự nhiên, bên cạnh đối thủ đang trên đà phát triển mấy năm gần đây là Ấn Độ. Nguyên liệu bông thô và gỗ được dùng để chế tạo ra loại sợi tơ tự nhiên, năm 2019 tổng sản xuất của loại sợi này đạt 41 triệu tấn, chiếm đến 37% sản lượng sợi toàn cầu. Ngoài Trung Quốc là nhà cung ứng chủ yếu, khả năng sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này của Bangladesh cũng tăng trưởng mạnh mẽ.

Đối với loại sợi tổng hợp, sợi polyester được sản xuất chủ yếu tại Trung Quốc và các nước Châu Á nhờ diễn biến giá tốt và nhu cầu xuất khẩu cải thiện. Hiện tại Trung Quốc cung cấp 67% lượng polyester toàn cầu, đồng thời là đối tác nhập khẩu số 1 của Việt Nam đối với mặt hàng này. Không dừng lại ở đó, xuất khẩu vải thô tại Trung Quốc năm 2019 đạt giá trị cao nhất là 119 tỷ USD, vượt trội hơn hẳn các đối thủ lớn như khối EU, Ấn Độ.

Nguồn: VIRAC tổng hợp

Khối Châu Âu gồm các nước lớn Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý và Bồ Đào Nha có tổng giá trị nền công nghiệp dệt may chiếm hơn 1/5 ngành dệt may toàn cầu và hiện trị giá 160 tỷ USD. Trong đó nguồn hàng dệt may thô của khối này chủ yếu do khập khẩu qua lại từ các quốc gia nằm trong khu vực, còn tỷ lệ xuất khẩu sang phần còn lại của thế giới chiếm hơn 30% thị phần. Đây cũng là khu vực có giá trị xuất khẩu thành phẩm quần áo hoàn chỉnh đứng thứ 2 thế giới, trong khoảng 130 tỷ USD/năm.

Bên cạnh các thị trường chủ chốt trên, Ấn Độ cũng là một đối thủ đáng gờm đang tăng trưởng mạnh mẽ những năm gần đây, sở hữu nền công nghiệp sản xuất dệt may đứng thứ ba thế giới và có giá trị xuất khẩu hơn 30 tỷ USD. Đây là thị trường có thế mạnh lớn dựa trên hàng loạt các loại sợi tự nhiên như bông, đay, tơ tằm, len cho đến các loại sợi tổng hợp tổng hợp như polyester, nylon, đồng thời sở hữu một ngành công nghiệp dệt phát triển.

Tiêu thụ thị trường 

Chiếm đến hơn 75% tổng giá trị dệt may toàn cầu, EU, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản hiện tại là tổ hợp thị trường tiêu thụ lớn nhất ngành hàng này. Đáng nói, tốc độ tăng trưởng doanh thu tại các khu vực này có sự chênh lệch rõ rệt, cụ thể các thị trường phát triển như EU, Mỹ, Nhật Bản tăng trưởng  tương đối thấp so với tốc độ của Trung Quốc (xấp xỉ 6%) và Ấn Độ (9%). 

Nguồn: VIRAC tổng hợp

Bên cạnh đó, chi tiêu bình quân trong may mặc cũng khập khiễng trong so sánh giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Dù là thị trường tiêu thụ may mặc lớn nhất thế giới nhưng mức chi tiêu bình quân cho may mặc năm 2014 của người dân Trung Quốc chỉ đạt 194 USD, chiếm 10% tổng thu nhập. Trong khi đó, chi tiêu cho may mặc của người dân Mỹ là 816 USD, chỉ chiếm 3% thu nhập. 

Theo WTO, giá trị nhập khẩu hàng dệt may của Liên minh Châu Âu đang đứng nhất trên thế giới, chiếm hơn 23% tổng lượng hàng dệt may nhập khẩu toàn cầu. Hiện tại giá trị nhập khẩu hàng may mặc tăng trưởng đều đặn 5.8% mỗi năm, với phân khúc sản phẩm lớn nhất thuộc về mặt hàng dệt kim. Tuy nhiên thời gian gần đây danh mục quần áo thể thao và thời trang năng động cũng đang thu hút đông đảo khách hàng ở thị trường này. 

Thị trường may mặc Việt Nam trong năm 2020

Được đánh giá có có tiềm năng phát triển lớn, Việt Nam đang tham vọng đặt chân vào cuộc đua khốc liệt của ngành công nghiệp dệt may toàn cầu. Lần đầu tiên trong lịch sử, năm 2019 Việt Nam vượt mặt Đài Loan và xếp thứ 7 nhà xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới (xuất khẩu đạt 8.8 tỷ đô la, tăng 8.3% so với một năm trước đó), đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ và những nỗ lực nâng cấp ngành dệt may của địa phương.

Thực trạng ngành may mặc Việt Nam

Hiện nay, sản xuất hàng may mặc nội địa vẫn dừng lại ở hình thức CMT – mua nguyên liệu, bán thành phẩm. Bởi các doanh nghiệp địa phương chưa có khả năng tự cung cấp trọn gói khâu sản xuất và phân phối sản phẩm, công nghiệp dệt may Việt vẫn tồn tại với giá trị gia tăng kém và khả năng tăng trưởng thấp.

Việt Nam vẫn phải phụ thuộc gần 75% nguồn nguyên vật liệu vào nhập khẩu, trong đó sợi bông thô chủ yếu đến từ Trung Quốc và Mỹ. Tính đến hết tháng 9 năm 2020, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu bông lớn thứ 3 trên thế giới với sản lượng tiêu thụ 1.5 triệu tấn/năm, trong đó có hơn 800 nghìn tấn bông nhập từ Mỹ và cũng là quốc gia nhập khẩu bông nhiều nhất của thị trường này. Các loại sợi nhân tạo như sợi tổng hợp và filament xét cả nước chỉ có 9 doanh nghiệp có khả năng cung cấp, còn lại chủ yếu sản xuất xơ sợi ngắn và kéo sợi.

Năm 2020, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn tới doanh thu các ngành dịch vụ dệt may nói chung, đặc biệt là thời điểm đầu năm khi các cửa hàng bán lẻ phải đóng cửa nhằm kiểm soát sự lây lan của dịch bệnh. Doanh số tiêu thụ trang phục trong 9T/2020 đạt 198 nghìn tỷ đồng, trong đó tiêu thụ quần áo công sở như bộ comple, quần áo đồng bộ, sơ mi, quần tây… giảm đáng kể do tình hình dịch bệnh phức tạp, nhiều doanh nghiệp đóng cửa sản xuất khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng. Bù lại quần áo bảo hộ lao động, cụ thể là quần áo bảo hộ y tế, khẩu trang phục vụ cho công tác phòng chống dịch Covid-19 tăng, mặc dù đến Q3 có dấu hiệu bão hòa khi nhà nước kiểm soát tốt dịch bệnh.

Nguồn: VIRAC tổng hợp

Trong tổng cộng 9 tháng đầu năm 2020, dịch vụ bán buôn hàng may mặc chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 29%, tiếp đến là bán buôn vải và bán lẻ hàng may mặc lần lượt đứng sau với chênh lệch không đáng kể. 

Nguồn: VIRAC tổng hợp

Báo cáo quý III/2020 của PWC và Wazir Advisors cho biết, nhu cầu hàng may mặc của EU và Hoa Kỳ giảm lần lượt là 45% và 40%, dẫn đến kết quả trong 9 tháng đầu năm xuất khẩu Việt Nam giảm 9.9% so với cùng kỳ năm 2019. Tại thị trường nội địa, các doanh nghiệp gia công liên tục đối mặt với tình trạng khách hàng hủy đơn, treo đơn. Cho đến tận tháng 9, 10 tình trạng này vẫn diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước, trong đó có 53.5% doanh nghiệp dệt may bị khách hoãn hủy đơn và 22.9% doanh nghiệp không xuất khẩu được.

Theo các dự báo của thế giới, 2021 vẫn còn là năm thị trường dệt may tiếp tục khó khăn, bất định, đặc biệt khi một chu kỳ đầu tư mới về sản xuất nguyên liệu và yêu cầu hậu Covid bắt đầu. Năm 2021 này, ngành Dệt may Việt Nam và Vinatex đặt kế hoạch kim ngạch xuất khẩu đạt 39 tỷ USD, mục tiêu trung bình là 38 tỷ USD. Ngoài tập trung nâng cao và hỗ trợ khối liên kết các doanh nghiệp thành viên, tập đoàn Vinatex sẽ nỗ lực khai thác hiệu quả các FTA, đồng thời đề nghị chính phủ có chính sách cụ thể cho phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may về cả không gian phát triển lẫn các điều kiện kích thích phát triển.

Cơ hội mới trong bối cảnh dịch bệnh

Nguyên vật liệu nhập khẩu thiếu thốn cũng như bị “treo đứng” ở cửa khẩu là lý do khiến nhiều doanh nghiệp tìm đến giải pháp cung ứng trong nước. Ngoài việc nhanh chóng đáp ứng nguồn phụ liệu thiếu sót, đây là lối thoát cấp thiết cho các nhà máy sợi khỏi sự phụ thuộc vào đế chế Trung Hoa. Trước những diễn biến bấp bênh của thị trường toàn cầu, tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước là điều kiện tất yếu, song cũng là đòn bẩy mạnh mẽ cho các hoạt động ODM (tự phát triển thiết kế và nguyên vật liệu) và OBM (tự phát triển thương hiệu) của doanh nghiệp. 

Cơ hội hợp tác với Ấn Độ sẽ mở ra cánh cửa vào thị trường hơn 1 tỷ dân và là sự bổ sung quý giá cho Việt Nam vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Hiện nay Việt Nam mới chỉ nhập khẩu 6% sợi bông và polyester từ quốc gia này, trong khi nguồn cung của thị trường này cũng dồi dào không kém Trung Quốc. Ngoài những ưu ái từ chính phủ Ấn Độ đối với các hoạt động liên kết doanh nghiệp giữa hai nước, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội hợp tác trong đào tạo lực lượng lao động dệt may, ứng dụng khoa học công nghệ, thiết kế…

Ngoài ra, Việt Nam – Hàn Quốc vừa thành công ký kết đề án triển khai điều khoản cộng gộp xuất xứ nguyên liệu dệt may trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU. Thỏa thuận này giúp doanh nghiệp Việt Nam tận dụng nguồn nguyên liệu dệt may chất lượng cao từ Hàn Quốc để sản xuất, xuất khẩu đi thị trường EU. 

Xu hướng phát triển của ngành từ thị trường EVFTA

Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU có thể tăng khoảng 67% đến năm 2025 so với kịch bản không có Hiệp định. Tuy nhiên để vận dụng đầy đủ tiềm năng từ thị trường, còn phụ thuộc vào khả năng Việt Nam chuyển đổi nguồn nguyên vật liệu đầu vào sang nội địa hóa hoặc nhập khẩu từ các thị trường mới là Hàn Quốc, Nhật Bản. Kịch bản những năm tới, doanh nghiệp trong nước cần tăng cường liên kết xây dựng các tổ hợp sản xuất theo chuỗi sợi – dệt – nhuộm – may để đáp ứng quy định về xuất xứ của khối, vừa đảm bảo đầu ra cho sản phẩm và sức cạnh tranh với các cường quốc dệt may khác.

Ngoài ra, các đối thủ chính của Việt Nam tại EU đều có lợi thế vượt trội về thuế quan như: Bangladesh và Campuchia được miễn thuế theo chương trình EBA, Pakistan được miễn thuế theo chương trình GSP+, đòi hỏi Việt Nam phải có bước bật lớn, cả về nâng cấp sản xuất và gia tăng chất lượng sản phẩm nếu muốn cạnh tranh bền bỉ trên thị trường.


Parse error: syntax error, unexpected end of file, expecting ';' in /home/earththe/public_html/viracresearch/wp-content/themes/virac/template-parts/post/single-related-posts.php on line 53