BIẾN ĐỘNG NGÀNH KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 2020, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2030

 

Năm 2020, ngành khai khoáng Việt Nam có nhiều biến động do ảnh hưởng của dịch Covid – 19. Trong khi thị trường khai thác, tiêu thụ trong nước của quặng sắt, bauxite, mangan, phi kim,… không chỉ duy trì ổn định mà còn tăng trưởng mạnh thì kim ngạch xuất-nhập khẩu đá granit, pophia, bazan, đá cát kết (sa thạch), đá xây dựng sụt giảm nghiêm trọng do sự đóng cửa của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. 

Ngày 22/12/2011 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 2427/QĐ-TTg về “Phê duyệt chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” liệu rằng doanh nghiệp ngành khai khoáng có tận dụng và bứt phát trong thời gian còn lại.

Công nghiệp khai khoáng Việt Nam năm 2020 sụt giảm đáng kể.

Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành khai khoáng năm 2020 giảm so với năm 2019. Đây là mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2019. Xu hướng chủ đạo trong tương lai vẫn là dịch chuyển ngành công nghiệp sang lĩnh vực chế biến, chế tạo, giảm dần sự phụ thuộc vào khai khoáng khi mà khoáng sản  Việt Nam đang bị khai thác kiệt quệ.

Nguồn: VIRAC, GSO

Trong năm ngành khai khoáng cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, đặc biệt trong những tháng đầu năm 2020, Chính phủ thi hành nhiều chính sách giãn cách xã hội; hoạt động của các doanh nghiệp đóng băng; dần trở lại tích cực trong quý II và quý III.

Nguồn: VIRAC

Tính đến hết 9 tháng đầu năm 2020, ngành khai khoáng chỉ đóng góp 4.54% GDP cả nước thấp nhất trong giai đoạn 2015 – 2020.

Quặng sắt Việt Nam trong tình trạng cầu lớn hơn cung.

Theo dữ liệu thu thập của VIRAC, ước tính 11 tháng đầu năm 2020 sản  lượng sản xuất và và tiêu thụ quặng sắt ước tính tăng lần lượt 10.4% và  10.89% so với cùng kỳ 2019.

Nguồn: VIRAC, GSO

Do sự phát triển rực rỡ của ngành thép, nhu cầu quặng sắt tăng lên mạnh mẽ  trong thời gian gần đây. Kể từ năm 2016, sản lượng quặng sắt tăng vọt so với  các năm trước. Tuy vậy, công suất khai thác của mỏ hiện nay là thấp hơn rất  nhiều so với công suất thiết kế được phê duyệt. Công nghệ và thiết bị khai  thác, chế biến ở mức trung bình, một số thiết bị khai thác cũ và lạc hậu, nên  công suất bị hạn chế và không đảm bảo khai thác hết công suất theo các dự  án được phê duyệt. Hầu hết các dự án khai thác với quy mô nhỏ, giá thành  quặng trong nước đội lên cao. Hiện tại quặng sắt chiếm đến khoảng 30% chi phí đầu vào của lò BOF.

Khách hàng tiêu thụ quặng sắt là các doanh nghiệp sản xuất thép dài với lò  BOF. Tuy vậy số lượng doanh nghiệp đang sản xuất theo công nghệ này còn  hạn chế, chủ yếu là Công ty Thép Hòa Phát, Công ty gang thép Thái  Nguyên….

Bauxite Việt Nam tăng trưởng mạnh trong sản xuất và tiêu thụ.

Sản xuất bauxite tại Việt Nam đang tăng trưởng mạnh những năm gần  đây. 11 tháng đầu năm 2020 sản lượng bauxite tăng hơn 12% so  với năm 2019 đạt 4.57 triệu tấn.

Nguồn: VIRAC, GSO, USSG

Việc giá quặng bauxite tăng liên tục trong 2 năm gần đây thúc đẩy các  hoạt động khai thác. Sau nhiều năm đầu tư xây dựng 2 dự án bauxite  trọng điểm Tân Rai và Nhân Cơ, tình hình khai thác bauxite tại Việt  Nam tương đối khả thi. Chất lượng quặng từ 2 dự án này tương đối tốt,  được ưa thích trên thị trường, mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung  Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Thái Lan.

Tuy nhiên khi quá trình khai thác được đẩy mạnh, những rủi ro về môi  trường ngày một tăng lên: vỡ hồ chứa bùn đỏ gây ảnh hưởng đến hệ  sinh thái, môi trường sống của khu vực đó.

Sản lượng quặng mangan tăng đột biến trong năm 2020

Nhu cầu Mangan của ngành luyện thép chiếm 85-90% tổng nhu cầu của Mangan nên triển vọng của ngành khai thác Mangan phụ thuộc nhiều vào triển  vọng của ngành thép. Việt Nam vẫn trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhu cầu vật liệu xây dựng sẽ vẫn lớn và ổn định trong trung, dài  hạn do đó ngành thép sẽ có triển vọng cao giúp đảm bảo ổn định thị trường đầu ra cho sản phẩm Mangan. Quặng mangan là đầu vào cho các nhà máy sản  xuất Feromangan và nhà máy Mangan điện giải. Feromangan là một trong những yếu tố cần thiết để sản xuất thép (chiếm 10% lượng thép) và có nhu cầu  ngày càng cao trên thị trường.

Nguồn: VIRAC, Trademap

Tuy nhiên hiện nay 10-20% quặng mangan khai thác phục vụ thị trường nội địa và chủ yếu phục vụ mục đích xuất khẩu. Năm 2020, sản lượng quặng mangan tăng đột biến 

Sản lượng khai thác và tiêu thụ phi kim – đá duy trì tăng trưởng ổn định.

Việc khai thác đá phụ thuộc vào nhu cầu tiêu thụ của các công trình xây dựng trong năm. Đặc thù riêng của ngành đá xây dựng, đá khai thác từ các

mỏ sẽ được tiêu thụ tại các tỉnh thành lân cận và hạn chế vận chuyển đi xa do chi phí cao.

Khai thác đá 2020 giảm 1.5% so với 2019 dù ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động của nền kinh tế bị đóng băng do các biện pháp cách ly xã hội. Tuy  nhiên kể từ quý 2 tình hình đã khởi sắc hơn khi các công trình hạ tầng giao thông trọng điểm như Sân bay Quốc Tế Long Thành, các tuyến Metro, Cao tốc  Trung Lương – Mỹ Thuận,… cũng đang được đẩy nhanh tiến độ triển khai. Nhu cầu tiêu thụ đá xây dựng là nhiều nhưng có một thực trạng hiện nay là các  mỏ đá đang khai thác gần như cạn kiệt hoặc gần hết thời hạn, trong khi chủ trương của các cơ quan chức năng lại hạn chế giấy phép mới, nhiều địa  phương thậm chí không cho phép tăng công suất để tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo này.

Nguồn: VIRAC, GSO

Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tiêu thụ các loại đá tại Việt Nam là nhóm đá granit, pophia, bazan, đá cát kết (sa thạch) và đá xây dựng khác với  84% năm 2020. Tiếp theo sau là nhóm đá vôi và các loại đá có chứa canxi khác và nhóm đá phiến chiếm tỷ trọng lần lượt 8.2% và 7.6%. Nguyên nhân chủ  yếu do tính ứng dụng cao của đá granit, loại đá thường được sử dụng để làm trang trí bếp, cầu thang, ốp tường, lát sàn… Bên cạnh đó, trữ lượng của loại  đá này cũng chiếm tỷ trọng lớn trong trữ lượng đá các loại của Việt Nam (khoảng trên 80%).

Nguồn: VIRAC, GSO

Sản xuất nhóm đá granite, pophia, bazan, đá cát kết (sa thạch), đá xây dựng khác tại Việt Nam giảm nhẹ trong năm 2020 và biến động khá ít  trong giai đoạn 2015 – 2020e do thị trường vẫn chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng giai đoạn trước đó nên kinh tế tăng trưởng chậm lại, đặc biệt  là thị trường bất động sản.

Doanh thu tiêu thụ nhóm đá granit, pophia, bazan, đá cát kết (sa thạch), đá xây dựng khác tại Việt Nam biến động trong giai đoạn 2018 – 2020 giảm, dao động trong khoảng 12.4 – 14.6 nghìn tỷ đồng.

Kim ngạch xuất-nhập khẩu đá granit, pophia, bazan, đá cát kết (sa thạch), đá xây dựng sụt giảm nghiêm trọng.

Kim ngạch xuất – nhập khẩu đá granit, pophia, bazan và các loại  đá xây dựng khác có xu hướng giảm nhanh trong năm 2019 khi  cung – cầu nội địa sụt giảm.

Nguồn: VIRAC, GDVC

Ấn Độ và Nauy là 2 quốc gia xuất khẩu nhóm đá granit, pophia,  bazan, đá cát kết (sa thạch), đá xây dựng lớn nhất vào Việt Nam.  Ấn Độ nổi tiếng với loại đá granit (hoa cương) đen với ưu điểm bền  chắc, cứng, bóng, có độ đồng nhất cao về màu sắc nên rất được ưa chuộng sử dụng trong nhiều công trình như: Mặt tiền, mặt bằng, cầu  thang, nền nhà, nhà vệ sinh…

Đài Loan và Trung Quốc là 2 quốc gia nhập khẩu nhiều nhóm đá  này từ Việt Nam. Trung Quốc đang tập trung đẩy mạnh xây dựng  công khiến nhu cầu vật liệu xây dựng tăng mạnh.

Chiến lược khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Ngày 22/12/2011 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 2427/QĐ-TTg về “Phê duyệt chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với những mục tiêu phát triển như sau: 

Thứ nhất, hoàn thành công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1/50,000 trên diện tích lãnh thổ; hoàn thành công tác điều tra địa chất, khoáng sản biển tỷ lệ 1/500,000; đánh giá làm rõ tiềm năng tài nguyên khoáng sản phục vụ khai thác và dự trữ quốc gia.

Thứ hai, thăm dò đáp ứng nhu cầu khai thác, chế biến đến năm 2050 đối với các khoáng sản: Than, urani, titan – zircon, đất hiếm, apatit, sắt, chì – kẽm, đồng,  thiếc, mangan, cromit, bauxit, cát thủy tinh và một số khoáng sản khác.

Thứ ba, khai thác khoáng sản phải gắn với chế biến, tạo sản phẩm có giá trị kinh tế cao; đến năm 2020 chấm dứt các cơ sở chế biến khoáng sản manh mún,  công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, gây ô nhiễm môi trường; hình thành các khu công nghiệp chế biến khoáng sản tập trung với công nghệ tiên  tiến, có quy mô tương xứng với tiềm năng của từng loại khoáng sản.

Thứ tư, chỉ xuất khẩu sản phẩm sau chế biến có giá trị cao đối với khoáng sản quy mô lớn. Các khoáng sản còn lại khai thác chế biến theo nhu cầu trong nước tăng cường dự trữ khoáng sản quốc gia làm cơ sở phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

Cuối cùng, khuyến khích hợp tác điều tra, thăm dò, khai thác, chế biến một số loại khoáng sản ở nước ngoài, ưu tiên các khoáng sản ở Việt Nam có nhu cầu sử dụng.


Parse error: syntax error, unexpected end of file, expecting ';' in /home/earththe/public_html/viracresearch/wp-content/themes/virac/template-parts/post/single-related-posts.php on line 53